Bài liên quan: Tranh Đông Hồ ứng cử di sản văn hóa thế giới
| Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đang giới thiệu bức tranh rước Rồng chào đón Xuân Nhâm Thìn. |
Bức tranh của làng tranh xưa...
Có một thời, người dân làng Đông Hồ (hay còn gọi là làng Mái) sống chủ yếu bằng nghề làm tranh. Những năm cuối thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ 20 hầu như “người người làm tranh, nhà nhà làm tranh”. Trẻ con đến người già đều biết làm tranh. Tranh Đông Hồ hưng thịnh như vậy có lẽ là bởi, lúc đó Hán học đang còn tồn tại, nhiều nhà nho, người dân vẫn hiểu và yêu thích nên tranh được ưa chuộng và phát triển. Tuy nhiên sau năm 1945, chiến tranh tàn phá ác liệt, người dân phải đối mặt với vấn đề sinh - tử, cơm áo gạo tiền, nên chẳng mấy ai còn thú chơi tranh. Vì vậy, nghề làm tranh tạm thời bị lắng xuống. Sau khi hoà bình được lặp lại ở miền Bắc, đi lên chủ nghĩa xã hội, làng tranh được quy hoạch thành tổ hợp sản xuất theo mô hình hợp tác xã, không khí sản xuất tranh rất náo nhiệt và tấp nập. Ngày tết, nhà nào trong khu vực đó cũng có một vài bức tranh treo trong nhà, mỗi bức với một ý nghĩa riêng: Những bức tranh đàn gà mẹ con; chú bé chăn trâu; vinh hoa phú quý; hứng dừa... bên cạnh mâm ngũ quả, hoa thuỷ tiên, cây lêu, tràng pháo bánh chưng xanh…, đã góp phần làm cho không khí ngày tết thêm thiêng liêng, ấm cúng. Nhờ có tranh dân gian Đông Hồ mà không khí ngày Tết mang đậm hồn quê, hồn dân tộc.
Bức tranh làng tranh nay
Sau khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, người làng tranh bỏ nghề, tìm nghề mới làm kế sinh nhai. Hợp tác xã làm tranh bị giải thể. Nhịp sống hối hả khiến người ta quên dần với thú chơi tranh trước kia. Người chơi tranh mua tranh ít đi, người làm tranh dần dần bỏ nghề. Thời hội nhập, nhiều luồng văn hoá tràn vào Việt Nam, người ta thích cái mới và hội nhập hơn, thế nên dòng tranh dân gian Đông Hồ cùng giá trị của nó bị lãng quên dần vào quá khứ.
Giờ tới làng tranh Đông Hồ, hầu hết người làm tranh năm xưa đã theo nghề làm hàng mã, vì hàng mã cho thu nhập cao hơn rất nhiều so với làm tranh. Về Đông Hồ nay chỉ thấy hàng mã và hàng mã, nào là tủ lạnh tivi, nhà cao tầng, xe máy, ôtô... đều bằng mã, không khí buôn bán hàng mã tấp nập, nhộn nhịp vô cùng. Ông Nguyễn Như Điều - Chủ tịch UBND xã Song Hồ cho biết: Cả làng giờ chỉ còn lại 2, 3 hộ làm tranh, các hộ khác đều làm hàng mã. Nguyên nhân là người dân ngày càng quan tâm tới yếu tố “tâm linh”, “phú quý sinh lễ nghĩa” nên nhu cầu dùng vàng mã của người dân tăng cao. Có cầu thì phải có cung, thấy cái gì có lãi thì người dân họ làm, việc cả làng tranh Đông Hồ chuyển sang nghề làm hàng mã là điều tất yếu. Hơn nữa, sản xuất tranh bây giờ khó bán hơn xưa, người ta chỉ mua tranh vào các dịp lễ tết hoặc mang biếu, ngày bình thường hầu như không bán được. Như vậy đầu ra không có nên không ai mặn mà với nghề tranh nữa.”
Hai hộ làm tranh ở Đông Hồ là gia đình cụ Nguyễn Hữu Sam và gia đình ông Nguyễn Đình Chế. Để bảo tồn và phát huy dòng tranh, những nghệ nhân như cụ Nguyễn Hữu Sam, cụ Nguyễn Đăng Chế, anh Nguyễn Hữu Qủa (con cụ Nguyễn Hữu Sam) luôn trăn trở với việc làm thế nào để phát triển dòng tranh này, để người Việt Nam hiểu hơn về giá trị của tranh, để người dân địa phương quay trở lại với nghề? Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế vốn yêu nghề tranh từ nhỏ, cụ đã bỏ tiền túi của mình ra để xây dựng “Trung tâm giao lưu tranh dân gian Đông Hồ” trên diện tích gần 6000m2 ngay tại quê hương mình. Đây là một không gian văn hoá hiếm có và độc đáo và nơi đây dần trở thành một địa chỉ thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Nhờ vậy cụ có cơ hội giới thiệu, quảng bá tranh dân gian Đông Hồ tới nhiều người hơn nữa để dòng tranh này được bay cao bay xa tới bạn bè quốc tế, tạo thu nhập cho gia đình và giải quyết việc làm thời vụ cho 5 – 10 người dân địa phương. Còn gia đình cụ Nguyễn Hữu Sam cũng vẫn giữ nghề tranh này và nó đang là nghề mang lại nguồn thu nhập chính cho gia đình con cháu cụ, bởi hiện cả ba đời nhà cụ đều làm tranh. Ngôi nhà của cụ với đầy những bức tranh Đông Hồ được xem là “Trung tâm sưu tầm phục chế tranh Đông Hồ” trực thuộc Hiệp hội UNESCO Hà Nội.
Hiện nay, khi gia đình cụ Chế xây dựng không gian văn hoá tranh Đông Hồ, đã có rất nhiều đoàn khách cả trong nước và quốc tế về đây tham quan tìm hiểu, mua tranh. Điều đáng quý là trong số khách tham quan đó có người lớn, trẻ nhỏ, có cả học sinh, sinh viên.
Làm gì để tranh Đông Hồ vượt qua cơn bĩ cực?
Ông Nguyễn Như Điều trăn trở: “Hiện tại tranh dân gian Đông Hồ chưa có đầu ra phù hợp, đó là cái khó khăn nhất. Nếu tranh sản xuất ra mà bán được, đem lại thu nhập cho người dân thì họ sẽ quay trở lại với nghề tranh. Chúng tôi chỉ có thể làm được trong khả năng của mình, cái chính là ở bà con, nếu cái gì có lợi cho bà con thì họ sẽ làm. Để tranh phát triển cần có sự quan tâm hơn nữa của các cấp các ngành, của Đảng và Nhà nước”. Được biết, xã Song Hồ đã phối hợp với các cơ quan chức năng huyện Thuận Thành và tỉnh Bắc Ninh mở các lớp dạy nghề làm tranh và dạy chữ Hán cho người dân, nhưng không được người dân hưởng ứng, vì họ nghĩ rằng, đi học cũng không mang lại lợi ích gì. Đó là một vấn đề rất khó khăn cho lãnh đạo địa phương trong việc đào tạo nghề nhằm bảo tồn và lưu giữ dòng tranh.
Theo dõi quá trình, diễn biến của kế hoạch xây dựng hồ sơ để đề cử UNESCO công nhận tranh Đông Hồ là di sản văn hóa thế giới, ông Nguyễn Đăng Túc, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh cho biết: Giá trị của dòng tranh dân gian Đông Hồ thì đã rõ, nhưng việc lập được hồ sơ cần tuân theo một quy trình cụ thể mà đầu tiên phải được sự cho phép của Chính phủ. Đến thời điểm hiện tại, tranh Đông Hồ vẫn đang chờ sự phê chuẩn của Chính phủ. Sau khi có kết quả mới tính đến việc kiểm kê, lập hồ sơ và đề xuất các phương án bảo tồn.
Thiết nghĩ, các cấp các ngành của Trung ương và tỉnh Bắc Ninh cần tạo nhiều cơ hội như: hỗ trợ vốn đầu tư; tìm kiếm thị trường thông qua trưng bày, triển lãm tranh ở các cuộc thi, hội chợ trong và ngoài nước; đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền về giá trị của tranh Đông Hồ để mọi người hiểu hơn về giá trị của tranh, của bản sắc văn hoá dân tộc, có như thế vậy mới bảo tồn và làm sống lại làng tranh dân gian xưa và để nghệ thuật tranh Đông Hồ mãi mãi trường tồn với thời gian.
Nguyễn Thị Hương/báo Công Nghiệp

0 nhận xét:
Đăng nhận xét