Làng Đông Hồ nằm trong không gian văn hoá cổ xưa của huyện Thuận Thành, 3 huyện bờ nam sông Đuống và rộng hơn là không gian văn hoá xứ Kinh Bắc. Tôi đã từng thực hiện những cuộc hành trình “xuyên Bắc Ninh” như thế này. Mời bạn đi cùng tôi!
Điểm khởi hành là điểm cực Nam của tỉnh tức quê hương tôi: làng Sen (xã Lâm Thao, huyện Lương Tài) với đình làng – di tích lịch sử - nghệ thuật cấp quốc gia được xây từ thời Lê, chùa Sùng Quang cạnh sông Sen (một nhánh của sông Đuống), khu văn chỉ thờ 44 vị đỗ đạt trong làng – minh chứng của một làng khoa bảng. Ngoài ra, ở xã Lâm Thao làng nào cũng có đình, chùa cổ và các lễ hội làng liên quan đến lịch sử thành lập quê hương như lễ hội vua Mít (thành hoàng của thôn Thái Trì), lễ hội chung của 3 thôn Ngọc Khám, Kim Thao, Lâm Thao với sự tích 3 ông thành hoàng của 3 làng này cùng đến đây lập làng xóm đã kết nghĩa anh em; hội làng Sen với đêm thơ đất Ngọc, hát quan họ trên hồ… Từ làng Sen, đi theo quốc lộ 38 qua một đoạn của huyện Cẩm Giàng - Hải Dương sẽ đến huyện Thuận Thành với phố Vàng, phố Chờ; khi đến ngã tư Đông Côi thì rẽ trái vào quốc lộ 182, trên đường đi sẽ gặp đền thờ Sĩ Nhiếp - Nam Giao Học Tổ - ông tổ của sự học đất Nam. Đi tiếp sẽ đến chùa Dâu - ngôi chùa cổ nhất Việt Nam ở thị trấn Dâu, xã Thanh Khương. Chùa Dâu là một di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng. Bạn không chỉ được thăm một cảnh quan kiến trúc đồ sộ mà còn được chiêm ngưỡng 101 pho tượng khác nhau với những pho tượng quý được tạc từ thế kỷ 13 cùng nhiều di vật kiến trúc cổ khác. Rời chùa Dâu, đi tiếp theo một đường đất, qua 2 ngôi chùa cổ kính khác1, khoảng 3 km nữa sẽ đến chùa Bút Tháp ở thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ. Chùa nằm ngay sát chân đê, chung quanh là cánh đồng, con đường vào có nhiều cây nên có phần yên bình, thoáng đãng hơn chùa Dâu (ở phố Dâu, chung quanh là dân cư, gần chợ Dâu). Chùa Bút Tháp có cổng vào rất cổ và lớn, không gian bên trong rộng rãi, bố trí các toà nhà, cây cối rất quy củ. Đặc biệt, ở đây có tháp Bút bằng đá, hình trụ, trên đá còn gần như nguyên những chữ Hán. Cây bút đá khổng lồ ấy vẫn ngày ngày chăm chỉ viết lên bầu trời xanh những dòng bút tinh khôi, óng mượt của cả một miền quê văn hiến.
Đình làng - di tích lịch sử cấp quốc gia ở làng Sen (thôn Ngọc Quan), xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh - quê hương của Tiến sĩ Vũ Miên và nhà văn hóa Vũ Trinh.
(Ảnh: tranbinhkb)
Lăng Sĩ Nhiếp - Nam Giao Học Tổ (ông tổ sự học đất Nam Giao) ở thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)
Chùa Dâu - phố Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)
Chùa Bút Tháp - thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)
Đường vào lăng Kinh Dương Vương - huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
(Ảnh: tranbinhkb)
Chùa Bút Tháp nằm ngay sát chân đê sông Đuống. Rời khỏi đây là ta cứ thênh thang trên đường đê rộng thoáng trực chỉ hướng làng Hồ mà đi. Khoảng 7 km nữa mới đến được nơi cần đến. Ai đã từng đi xe đạp thong dong trên đê sông Đuống thì có lẽ mới có thể cảm nhận được cái thế “nằm nghiêng nghiêng” của con sông chở nặng phù sa. Đê cao, triền đê rộng và xanh mướt cỏ xuân. Bên ngoài đê là những ruộng trồng màu và những con trâu, bò thảnh thơi gặm cỏ. Bên trong đê là những xóm làng quần cư lâu đời, nhà cửa san sát, những bụi tre đứng cạnh nhau như xây thành xây luỹ bảo vệ làng xóm và cánh đồng rộng rãi, bằng phẳng. Đi trên đê, ta sẽ đi qua một làng xóm mà bên trong có đền thờ Kinh Dương Vương - thủy tổ của Hồng Bàng thị rồi lại một khu lăng ở ngoài đê cũng thờ ngài. Tôi tự hỏi: Họ xây lăng ở ngoài đê thế này không sợ nước ngập sao? Có lẽ là do chỗ đất đó nước chẳng ngập đến được, bởi gọi là ngoài đê thôi chứ đứng trên đê cũng chẳng nhìn thấy được nước sông! Đi tiếp lại gặp đền thờ Tây Vương Tướng quân cũng ở ngoài đê và một điện thờ mẫu ở trong đê. Đó mới chỉ là đi thẳng trên đê thôi, nếu đi vào trong những làng xóm thì còn gặp biết bao nhiêu đình, chùa, đền, miếu nữa, và biết bao nhiêu câu chuyện nữa mình chưa biết được? Thế mới hay ở cái đất Bắc Ninh tuy bé nhỏ nhất nước này mà cái kho tàng văn hoá cổ truyền lại chẳng nhỏ chút nào! Có lẽ cả một đời người vẫn chưa thể nào tìm hiểu hết được…
Hoàng hôn trên sông Đuống
(Ảnh: Đặng Lam Điền, nguồn: vnkrol.com)
Phía ngoài đê sông Đuống nhìn từ bờ nam
(Ảnh: Đặng Lam Điền, nguồn: vnkrol.com)
Đi vòng vèo một hồi rồi cũng đến làng Đông Hồ. Ngay ở trên đê đã thấy tấm biển ximăng màu đỏ đề chữ vàng rõ lớn: “Tranh Đông Hồ”.
Con đê đầu làng Đông Hồ.
(Ảnh: HG, Nguồn: honviet.vitinfo.com.vn)
Cuộc hành trình thứ hai
Cuộc hành trình thứ hai cũng bắt đầu từ làng Sen, qua tất cả các thôn khác của xã Lâm Thao rồi đến xã Bình Định. Hai xã này đã đi vào truyền thuyết dân gian rằng khi Thánh Gióng đi đánh giặc Ân, vết chân ngựa của chàng đã dẫm qua vùng này mà để lại khá nhiều ao, chuôm, đầm, hồ vẫn còn đến tận bây giờ. Ở xã Bình Định nổi tiếng nhất là đình thôn Ngọc Trì rất lớn, cổ và cũng giống đình Ngọc Quan – cũng nằm ở giữa làng, cũng có hồ nước ở phía trước. Cái này các cụ vẫn gọi là thuật phong thuỷ, làm vậy để cho luồng khí được hanh thông, luồng khí ở đình được hanh thông thì cả làng mới được cái phước của trời đất mà an cư lạc nghiệp, yên ổn nhiều đời… Qua Bình Đình thì rẽ vào Phú Lương – quê hương của Nguyễn Thuyên - một trong những người sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm đầu tiên, người mà tương truyền đã viết hịch lệnh cho cá sấu đang lên bờ phá hoại mùa màng, giết chóc dân chúng phải rút xuống nước. Bởi lẽ vậy nên ông đã được vua đổi cho qua họ Hàn – ý so sánh với Hàn Tín bên Tàu thành ra Hàn Thuyên. Phú Lương là một xã hiếu học, có dòng họ Vũ nhiều người đỗ đạt như Tiến sĩ Vũ Cẩn…Qua Thị trấn Thứa - huyện lị của huyện Lương Tài thì đi lên thị trấn Đông Bình - huyện lị của Đông Bình.
Nhắc đến huyện Đông Bình thì ta không thể quên được xã Đại Bái với nghề đúc đồng lâu đời. Dân Đại Bái (trong đó có làng Bưởi) đi tứ xứ để đúc nồi, xoong cho thiên hạ, ra cả chốn Kẻ Chợ (Hà Nội) lập ra làng Bưởi làm tiếp nghề cha ông để rồi sau này cái tên Bưởi đã đi vào tên ngôi trường sản sinh ra biết bao thế hệ chiến sĩ cách mạng. Ở Đại Bái có một điều đặc biệt là những hoành phi, câu đối trong đình của họ không làm bằng gỗ rồi sơn son thếp vàng lên mà làm bằng đồng thau. Những tấm đồng lớn treo trên cao như vậy như những tấm phản quang hắt ra một màu vàng có thể khiến người ta mỏi mắt mỗi khi thắp điện. Dân Đại Bái đi tứ xứ rồi ngày Tết, ngày hội, ai mà chẳng cố mà về cúi đầu cảm tạ trong đình… Một điều đặc biệt nữa là ở Đại Bái mới xuất hiện các bức tranh Đông Hồ được “vẽ” trên chất liệu đồng! Ý tưởng độc đáo này là của nghệ nhân Nguyễn Văn Điền, được thực hiện trong nguy cơ mai một nghề đúc đồng truyền thống. Được sự giúp đỡ của các nghệ nhân làng Đông Hồ, tranh Đông Hồ đã “sống” được trên chất liệu kim loại này. Bằng ý tưởng này, ông Điền đã góp phần không nhỏ vào việc khôi phục lại nghề truyền thống của Đại Bái.
Tranh Đông Hồ trên chất liệu đồng sản xuất ở Đại Bái - Gia Bình
(Nguồn: VietNamNet)
Ở Đông Bình còn có làng nghề tre Xuân Lai ở xã Xuân Lai. Làng này vốn xưa quen làm ghế tre, chõng tre và các vật dụng bằng tre khác. Rồi thì khoa học kĩ thuật phát triển, chẳng mấy ai ưa dùng đồ tre mau hỏng, rẻ tiền, dân dã nữa. Đang lúc làng tre lay lắt thì đã có người nảy ra ý tưởng vẽ tranh Đông Hồ lên tre. Vậy là những Đàn lợn âm dương, Đàn gà, Đám cưới chuột, Tố nữ… của làng tranh Đông Hồ lại được sống cuộc sống thứ hai trên chất liệu tre mới mẻ này. Mang đậm chất truyền thống mà lại hợp thời nên tranh Đông Hồ trên tre Xuân Lai đã rất phát triển và được xuất khẩu rất nhiều.
Tranh Đông Hồ trên tre của làng nghề Xuân Lai
(Ảnh: tranbinkb)
Vẫn ở Đông Bình, ta còn đi ngang qua một ngọn núi thấp mà trên đỉnh có đền thờ vị tiến sĩ đầu tiên của nước nhà – Lê Văn Thịnh. Tiếc rằng đường đi khó nên tôi chưa có dịp lên tận nơi để tưởng nhớ một hiền nhân đã chết oan. Ngày xưa, cụ Nguyễn Du viết “Chữ tài đi với chữ tai một vần” là vậy.
Khi đã qua đền thờ Lê Văn Thịnh rồi thì cứ đi thẳng rồi lên đê sông Đuống, thẳng tiến hướng làng Đông Hồ. Từ làng Đông Hồ lại đi lên đê khoảng 3 km nữa ra đến cầu Hồ (trước kia là phà Hồ) để qua Tiên Du, Tiên Sơn rồi lên thành phố Bắc Ninh. Có lẽ nên dừng lại ở 3 huyện “Bên kia sông Đuống” (tức 3 huyện bờ nam) thôi, nếu không lại phải kể đến biết bao nhiêu nơi nữa mà nơi nào cũng đi vào hồn dân tộc như thị trấn Lim với hội hát quan họ của các nghệ nhân già, chùa Phật Tích cổ xưa, chùa Hàm Long linh thiêng trên đồi cao bề thế; xã Đình Bảng quê hương của các Lí vương với Đền Đô mà mỗi năm vào dịp thờ đều có 8 dải mây trắng ở ngay trên đầu, với cái đình cổ xưa, với cặp bánh su sê (phu thê) mỗi lần cưới hỏi ở xứ Bắc đều không quên có; thôn Viêm Xá (huyện Yên Phong, nay thuộc thành phố Bắc Ninh) - gốc của lối hát quan họ và cũng là nơi có đền Cùng (hay đền Giếng) thờ mẫu với tương truyền ở giếng nước trong của đền có đôi cá chép sống hàng trăm năm, dù nước ngập vẫn không bơi đi nơi khác, nơi cầu đảo mong mùa màng thuận lợi, đánh giặc thành công của các vua Lí, Trần xưa, nơi mà người ta vẫn nói rằng: “Dù ai đi lễ bốn phương, Không bằng linh hiểu thắp hương đền Cùng”. Cũng như đền Cùng, đền Bà Chúa Kho (thành phố Bắc Ninh) cũng thờ mẫu, là nơi mà hàng năm vào dịp lễ hội, dân chúng khắp nơi đổ về cầu xin tiền bạc từ Đức Mẫu nhân từ… Và còn biết bao nhiêu làng xóm, đình chùa, lễ hội… chúng ta chưa từng đi qua?
Tôi phải “lan man” về Bắc Ninh - nhất là các huyện bờ năm sông Đuống như vậy mà không đi mô tả làng Đông Hồ luôn là cũng có cái lí riêng của tôi. Các ngành khoa học xã hội – nhân văn mà đặc biệt là ngành Nhân học từ trước đến nay vẫn luôn coi trọng không gian, bối cảnh khi xem xét đời sống văn hoá một vùng đất nào đó. Để có thể định hình và phát triển một giá trị văn hoá vào đó thì không phải đơn giản chỉ cần chất liệu từ chính nơi nó sinh ra mà cần phải có một không gian văn hoá mà ở đó luôn có sự giao lưu, học hỏi và ảnh hưởng lẫn nhau. Các huyện bờ nam luôn có mối liên hệ liên tục, thường xuyên, gần gũi với nhau hơn với các huyện phía bắc bởi sự ngăn cách của sông Đuống. Ngày xưa sông Đuống không hẹp như bây giờ nên việc bờ này qua bờ kia là một khó khăn với nhân dân - vốn ít đi ra ngoài mà yên ổn làm ăn ở trong làng xóm. Các huyện bờ nam sông Đuống là những huyện đồng bằng (riêng huyện Gia Bình có một ít đồn núi thấp), địa bằng phẳng, trước kia còn nhiều vùng đất ngập nước nên hoạt động nông nghiệp (trồng lúa nước) chỉ tiến hành được một mùa. Vào mùa nước lớn, nếu có lũ lụt thì các huyện phía nam bị chứ hiếm khi các huyện bờ bắc bị vì các huyện này cao hơn, có nhiều đồi núi hơn. Ba huyện bờ nam sông Đuống nói riêng và cả Bắc Ninh và Bắc Bộ nói chung đều là nơi sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là lúa nước lâu đời, đời sống sản xuất và sinh hoạt phụ thuộc nhiều và thiên nhiên. Môi trường sống này đã định hình nên một nền văn hoá nông nghiệp lúa nước lâu đời và điển hình. Tranh dân gian Đông Hồ đã tồn tại và phát triển trong điều kiện tự nhiên, không gian văn hoá như vậy.
Trần Văn Bình

0 nhận xét:
Đăng nhận xét